Thu nhập trên mỗi cổ phiếu – Earning per share

Thoạt nhìn, việc tính toán thu nhập trên mỗi cổ phiếu (earnings per share – EPS) đơn giản đúng như cái tên của nó: lấy tổng lợi nhuận chia cho tổng số cổ phiếu. Tuy nhiên, mọi việc sẽ trở nên phức tạp hơn khi chúng ta xét thêm những loại chứng khoán có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường. Trong trường hợp đó, ta so sánh 2 khái niệm: EPS cơ bảnEPS pha loãng.

Bài viết này sẽ phân tích về cách tính toán 2 loại EPS này và đưa ra những ví dụ cụ thể để đánh giá ảnh hưởng của chúng.

1.EPS cơ bản:

Đầu tiên, EPS được tính toán dựa trên góc nhìn của cổ đông sở hữu cổ phiếu thường (common stock). Tùy thuộc vào các loại chứng khoán do công ty phát hành, bạn có thể sẽ phải thay đổi tính toán cho EPS, nhưng trong trường hợp đơn giản nhất – EPS cơ bản – bạn giả định rằng công ty có 2 loại cổ phiếu: cổ phiếu thường (common stockcổ phiếu ưu đãi (preferred stock). Công thức EPS cơ bản như sau:

\[ \text{Basic EPS} = \frac{\text{Net Income} – \text{Preferred dividends}}{\text{Weighted average of common stocks outstanding}} \]

hay

\[ \text{EPS cơ bản} = \frac{\text{Lợi nhuận ròng} – \text{Cổ tức ưu đãi}}{\text{Số lượng cổ phiếu phổ thông trung bình đang lưu hành}} \]

Vì cổ tức ưu đãi không được chia cho các cổ đông phổ thông, ta phải trừ chúng khỏi lợi nhuận ròng để lấy được thu nhập còn lại cho cổ đông phổ thông (không cần quan tâm cổ tức ưu đãi này đã được thực trả hay chưa). Dưới đây là một ví dụ đơn giản về công ty X:

  • Lợi nhuận ròng: $2.5 triệu
  • Số lượng cổ phiếu ưu đãi hiện hành: 100,000
  • Mệnh giá của mỗi cổ phiếu ưu đãi: $100
  • Cổ tức ưu đãi: 5%
  • Tổng số cổ phiếu đang lưu hành: 1,050,000

Ta tính được số lượng cổ phiếu thường đang lưu hành (weighted average of common stocks outstanding – WASCO) là:  1,050,000 – 100,000 = 950,000

Cổ tức ưu đãi là \$ 500,000 (= 100,000 × \$ 100 × 5%). Vậy EPS cơ bản là:

\[ Basic\ EPS\ =\ \frac{$2,500,000\ –\ $500,000}{950,000} = $2.11/cổ\ phiếu\ \]

 

2. EPS pha loãng hoàn toàn (fully diluted EPS)

Nếu công ty phát hành những loại chứng khoán có thể được chuyển đổi sang cổ phiếu thường như: trái phiếu chuyển đổi (convertible bonds), cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi (convertible preferred stock), quyền chọn cổ phiếu (stock options), chứng quyền (stock warrants), cấu trúc vốn của công ty được gọi là phức tạp (complex capital structure). Nếu công ty không phát hành loại chứng khoán nào như vậy, cấu trúc vốn được coi là đơn giản (simple capital structure). EPS pha loãng được phát sinh trong trường hợp công ty có cấu trúc vốn phức tạp.

Điểm khác biệt chính trong cách tính toán EPS cơ bản và EPS pha loãng là:

  • EPS cơ bản dựa vào cấu trúc vốn sẵn có của công ty.
  • EPS pha loãng hoàn toàn xét đến trường hợp xấu nhất với EPS, với giả định rằng những loại chứng khoán có thể được chuyển đổi thành cổ phiếu thường (vd: trái phiếu chuyển đổi) được thực sự chuyển đổi thành cổ phiếu thường.

Với một công ty có cấu trúc vốn phức tạp, khi ta chuyển đổi những loại chứng khoán chuyển đổi, nó sẽ ảnh hưởng tới phần lợi nhuận dành cho cổ đông thông thường và tổng số cổ phiếu thường lưu hành. Điều này có thể khiến EPS mới được tính ra nhỏ hơn EPS cơ bản, hiện tượng đó được gọi là pha loãng (dilution). Cách xử lý như sau:

  • Xét riêng từng loại chứng khoán chuyển đổi, nếu sau khi chuyển đổi mà EPS mới nhỏ hơn EPS cơ bản, ta gọi loại chứng khoán này là dilutiveNgược lại, nếu EPS mới lớn hơn EPS cũ, ta gọi chúng là anti-dilutive.
  • EPS pha loãng hoàn toàn được tính bằng cách chuyển đổi tất cả các chứng khoán dilutive.

Chúng ta xem xét từng loại chứng khoán chuyển đổi:

a. Trái phiếu chuyển đổi:

Nếu trái phiếu chuyển đổi được chuyển thành cổ phiếu thường, sẽ có 2 hệ quả:

  1. Phần lãi của trái phiếu (sau thuế) sẽ được cộng lại vào lợi nhuận ròng.
  2. WACSO sẽ tăng thêm số lượng cổ phiếu được chuyển đổi từ trái phiếu.

Ví dụ minh họa:

Giữ nguyên các giả định ở phần trên. Công ty X phát hành thêm \$ 1,000,000 trái phiếu với mệnh giá \$ 1,000, trái tức 6%, có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường với giá chuyển đổi (conversion price) là \$ 40/ cổ phiếu. Thuế suất là 40%.

Mỗi trái phiếu sẽ được chuyển đổi thành:

\[ \frac{$1,000}{$40}\ =\ 25\ cổ\ phiếu\ \]

Có tổng cộng 1,000 (= \$1,000,000 ÷ \$1,000) trái phiếu lưu hành, vì vậy số cổ phiếu tăng lên của WACSO sẽ là 25,000 (= 1,000 × 25) cổ phiếu. Trái tức là \$60,000 (= \$1,000,000 × 6%); sau khi tính thuế sẽ là \$36,000 (= \$60,000 × (1 – 40%)).  Do đó, EPS pha loãng nếu trái phiếu được chuyển đổi sẽ là:

\[EPS\ pha\ loãng\ =\ \frac{$2,500,000\ –\ $500,000\ +\ $36,000}{950,000\ +\ 25,000}\ =\ $2.09/cổ\ phiếu\ \]

Vì con số này nhỏ hơn EPS cơ bản \$2.11/cổ phiếu, ta kết luận rằng trái phiếu chuyển đổi này là dilutivevà sẽ được bao gồm trong tính toán EPS pha loãng hoàn toàn.

 

b. Cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi:

Chúng hoạt động giống với trái phiếu chuyển đổi: phần cổ tức ưu đãi được cộng lại vào tử số (xóa bỏ việc chúng ta trừ đi nó từ lợi nhuận ròng lúc trước – nếu bạn còn nhớ), và thêm số lượng cổ phiếu thường được chuyển đổi vào mẫu số. Lưu ý rằng cổ tức ưu đãi không phải là chi phí, vì vậy không bị khấu trừ thuế.

Tiếp tục với ví dụ ở trên:

Cổ phiếu ưu đãi có thể được chuyển đổi sang cổ phiếu thường với tỷ lệ 1 cổ phiếu ưu đãi đổi được 2 cổ phiếu thường .

Tử số sẽ tăng lên phần cổ tức ưu đãi \$500,000 và WACSO tăng lên 200,000 (= 100,000 × 2). Do đó EPS pha loãng sẽ là:

\[EPS\ pha\ loãng\ =\ \frac{$2,500,000\ –\ $500,000\ +\ $500,000}{950,000\ +\ 200,000}\ =\ $2.17/cổ\ phiếu\ \]

Vì số này lớn hơn EPS cơ bản \$2.11/cổ phiếu, ta kết luận rằng cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi này là anti-dilutive, và sẽ không được bao gồm trong tính toán EPS pha loãng hoàn toàn.

 

c. Quyền chọn cổ phiếu (stock options) và Chứng quyền (stock warrants):

Cách thức hoạt động của Quyền chọn cổ phiếu và Chứng quyền là như nhau: cho phép chủ sở hữu có quyền để mua cổ phiếu thường với một giá cố định (gọi là giá thực hiện – strike price). Do đó, nếu những quyền này được thực hiện, công ty sẽ nhận được tiền. Phương pháp tính toán được sử dụng cho những loại chứng khoán này được gọi là phương pháp cổ phiếu quỹ (treasury stock method), phần tiền nhận được này sẽ được giả định rằng được sử dụng toàn bộ để mua lại số lượng cổ phiếu nhiều nhất có thể, với giá bằng giá cổ phiếu trung bình trong năm. Do đó, sẽ không có dòng tiền ròng (net cash flow) đối với công ty, điều duy nhất thay đổi trong tính toán EPS là WACSO: nó được tăng lên số lượng cổ phiếu khi quyền chọn được thực hiện, và giảm đi số lượng cổ phiếu quỹ được mua lại.

Tiếp tục với ví dụ ở trên:

Công ty X phát hành 60,000 quyền chọn cổ phiếu, mỗi quyền chọn cho phép chủ sở hữu có quyền mua 10 cổ phiếu với giá \$25/cổ phiếu. Giá cổ phiếu trung bình trong năm là $30/share

Nếu những quyền chọn này được thực hiện, công ty sẽ phải phát hành thêm 600,000 (= 60,000 × 10) cổ phiếu; chủ sở hữu quyền chọn sẽ phải trả \$15 triệu (= 600,000 × \$ 25) cho số cổ phiếu này. Công ty sau đó sẽ sử dụng \$ 15 triệu này để mua lại 500,000 (= \$ 15 triệu ÷ \$ 30) cổ phiếu. Tác động lên WACSO là tăng lên 100,000 (= 600,000 – 500,000) cổ phiếu. Do đó, EPS pha loãng là:

\[EPS\ pha\ loãng\ =\ \frac{$2,500,000\ –\ $500,000\ }{950,000\ +\ 100,000}\ =\ $1.90/cổ\ phiếu\ \]

Vì con số này nhỏ hơn EPS cơ bản \$2.11/cổ phiếu, ta kết luận rằng quyền chọn này là dilutive, và sẽ được bao gồm trong tính toán EPS pha loãng hoàn toàn.

 

d. Bước tính toán cuối cùng:

Để tính toán EPS pha loãng hoàn toàn, chúng ta bao gồm tất cả những chứng khoán dilutive (trái phiếu chuyển đổi và quyền chọn), nhưng chúng ta không bao gốm chứng khoán anti-dilutive (cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi). Con số cuối cùng:

\[ EPS\ pha\ loãng\ hoàn\ toàn\  =\ \frac{$2,500,000\ –\ $500,000\ +\ $36,000}{950,000\ +\ 25,000\ +\ 100,000}\ =\ $1.89/cổ\ phiếu\ \]

Chúng ta vừa xem xét điểm khác nhau trong cách tính toán EPS cơ bản và EPS pha loãng. Điểm mấu chốt ở đây là xét xem loại chứng khoán nào là dilutiveanti-dilutive. Sau đó, hãy nhớ rằng EPS pha loãng bao giờ cũng phải nhỏ hơn hoặc bằng EPS cơ bản.

 

 

2 Comments on “Thu nhập trên mỗi cổ phiếu – Earning per share

  1. Hi admin,

    Bạn cho mình hỏi ở mục a. Tính EPS pha loãng trong trường hợp trái phiểu chuyển đổi:

    – Tại sao lại cộng phần lãi Trái phiếu (sau thuế) vào Lợi nhuận ròng của Doanh nghiệp?

    Theo mình hiểu thì: Lãi từ trái phiếu chính là trái tức phải không bạn?
    Vậy lãi của trái phiếu sau thuế nghĩa là thế nào? Tại sao phần lãi này lại bị đánh thuế và phần thuế này là chi phí DN phải bỏ ra à? Và vì sao lại cộng lãi sau thuế của trái phiếu vào Lợi nhuận của Doanh nghiệp nhỉ?

    Trái tức là khoản tiền Doanh nghiệp phải trả cho nhà đầu tư, thì đây là 1 dòng tiền đi ra (outflow), vậy tại sao lại cộng lại Lợi nhuận ròng nhỉ?

    1. Hi bạn,

      Khi trái phiếu được chuyển đổi thành cổ phiếu, doanh nghiệp không phải chi trả lãi vay cho phần trái phiếu này nữa.
      Do đó có thể coi là chi phí giảm đi, và dẫn đến việc earnings tăng lên nên ta cộng ngược lại chi phí lãi vay để ra earnings. Ngoài ra, chi phí này được khấu trừ thuế, nên khi cộng lại mình cũng phải tính tác động sau thuế.

Leave a Reply

Your email address will not be published.